Tin Tức Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ


Sắc Chỉ Năm Thánh Tình Thương - 2

Nguồn: Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

Misericordiae Vultus

 Dung Nhan của Tình Thương

Sắc Chỉ mở Năm Thánh Ngoại Lệ về Tình Thương

Phanxicô, Giám Mục Rôma, Người Tôi Tớ của Các Tôi Tớ,

gửi đến tất cả những ai đọc Bức Thư này Ân Sủng, Tình Thương và Bình An.

 (Tiếp theo)

 

II- Tình Thương: Hành Động của Thiên Chúa trong Mạc Khải Thánh Kinh (6-9)

6. "Thật là thích hợp để Thiên Chúa thực thi tình thương và Ngài bày tỏ quyền toàn năng của Ngài ra một cách đặc biệt như thế" (Saint Thomas Aquinas, Summa Theologiae, II-II, q. 30, a. 4). Những lời của Thánh Tôma Aquinas cho thấy rằng tình thương của Thiên Chúa là dấu hiệu cho quyền toàn năng của Ngài, hơn là một dấu hiệu của những gì là yếu hèn. Đó là lý do phụng vụ, ở một trong những lời nguyện đầu lễ cổ kính nhất chúng ta đã cầu rằng: "Ôi Thiên Chúa, Đấng tỏ quyền năng của Chúa ra nhất là nơi tình thương và sự tha thứ của Chúa..." (XXVI Sunday in Ordinary Time. This Collect already appears in the eighth century among the euchological texts of the Gelasian Sacramentary [1198]). Trải suốt giòng lịch sử của nhân loại, Thiên Chúa bao giờ cũng là Đấng hiện diện, gần gũi, quan phòng, thánh hảo và nhân hậu.

"Nhẫn nại và nhân hậu". Những lời này thường đi với nhau trong Cựu Ước để diễn tả bản tính của Thiên Chúa. Bản tính nhân hậu của Ngài được thể hiện một cách cụ thể nơi nhiều hành động của Ngài dọc suốt giòng lịch sử cứu độ, một giòng lịch sử cho thấy sự thiện hảo của Ngài trổi vượt hơn là trừng phạt và hủy diệt. Các Thánh Vịnh đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự cao cả nơi hành động nhân hậu của Ngài: "Ngài thứ tha tất cả mọi lầm lỗi của ngươi, Ngài chữa lành tất cả mọi bệnh hoạn của ngươi, Ngài cứu chuộc sự sống của ngươi khỏi huyệt thẳm, Ngài thăng hóa ngươi bằng tình yêu và tình thương bền vững" (103:3-4). Bài Thánh Vịnh khác, còn rõ ràng hơn nữa, chứng thực cho thấy các dấu hiệu cụ thể của tình thương Ngài: "Ngài bảo đảm công lý cho kẻ bị đàn áp; Ngài ban lương thực cho người đói khổ. Chúa giải phóng thành phần tù nhân; Chúa mở mắt cho những ai mù lòa. Chúa nâng dậy những ai bị đè nén; Chúa yêu thương thành phần công chính. Chúa canh chừng những ai kiều cư, Ngài nâng đỡ cô nhi quả phụ; nhưng Ngài phá tan đường lối của kẻ gian ác" (146:7-9). Đây là một số diễn tả khác của Thánh Vịnh gia: "Ngài chữa lành tâm can tan nát và băng bó các thương tích của họ... Kẻ bị chà đạp được Chúa nâng lên, kẻ gian ác bị Ngài quăng xuống đất" (147:3,6). Tóm lại, tình thương của Thiên Chúa không phải là một ý nghĩ trừu tượng mà là một thực tại cụ thể nhờ đó Ngài mạc khải cho thấy tình yêu thương của Ngài như tình yêu của một người cha hay của một người mẹ, một tình yêu hết sức động lòng yêu thương đứa con của mình. Nói mà không sợ quá đáng thì đó là một thứ tình yêu "đầy cảm xúc". Nó vọt ra một cách tự nhiên từ thâm cung đầy những niềm êm ái dịu dàng và cảm thương, yêu chiều và xót thương. 

7. "Vì tình thương của Ngài bền vững muôn đời". Đây là phiên khúc được lập lại sau mỗi câu trong Thánh Vịnh 136 khi Thánh Vịnh này kể ra lịch sử mạc khải của Thiên Chúa. Vì tình thương mà tất cả mọi biến cố trong Cựu Ước đầy những ý nghĩa cứu độ sâu xa. Tình thương làm cho lịch sử của Thiên Chúa với dân do Thái thành một lịch sử cứu độ. Việc lập lại liên tục "vì tình thương của Ngài bền vững muôn đời", như trong bài Thánh Vịnh này, như thể làm cho các chiều kích về không gian và thời gian được thông suốt, đem hết mọi sự vào mầu nhiệm đời đời của tình yêu. Như thể nói rằng chẳng những trong lịch sử mà còn cho đến đời đời con người bao giờ cũng sẽ ở dưới ánh mắt nhân hậu của Chúa Cha. Không phải là ngẫu nhiên mà dân Do Thái đã muốn cho bài thánh vịnh này - được gọi là "Great Hallel - Bài Chúc Tụng Cao Cả" - vào những ngày lễ phụng vụ quan trọng nhất.

Trước cuộc Khổ Nạn của mình, Chúa Giêsu đã cầu nguyện bằng bài thánh vịnh tình thương này. Thánh ký Mathêu chứng thực điều ấy khi ngài nói rằng "khi các vị hát một bài thánh ca" (26:30) Chúa Giêsu và các môn đệ của Người đi lên Núi Cây Dầu. Khi Người thiết lập Thánh Thể như là một việc muôn đời tưởng nhớ đến Người và hy tế vượt qua của Người, Người đã đặt tác động mạc khải tối cao này một cách biểu hiệu theo chiều kích tình thương của Người. Trong chính bối cảnh tình thương ấy, Chúa Giêsu đã tiến vào cuộc khổ nạn và tử nạn của Người, ý thức về mầu nhiệm yêu thương cao cả mà Người sẽ hoàn tất trên cây thập tự giá. Việc nhận thức được chính Chúa Giêsu đã cầu nguyện bài thánh vịnh này đã làm cho bài thánh vịnh ấy thậm chí càng trở nên quan trọng hơn nữa đối với Kitô hữu chúng ta, thách thức chúng ta hãy lập lại điệp khúc này trong đời sống hằng ngày của chúng ta, bằng cách cầu nguyện với những lời chúc tụng ấy: "vì tình thương của Ngài muôn đời bền vững".

8. Bằng ánh mắt của mình ngắm nhìn Chúa Giêsu cũng như ngắm nhìn ánh mắt nhân hậu của Người, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Ba Ngôi Chí Thánh. Sứ vụ Chúa Giêsu đã lãnh nhận từ Cha là sứ vụ mạc khải tất cả mầu nhiệm tình yêu thần linh. "Thiên Chúa là tình yêu" (1Gioan 4:8,16), Thánh ký Gioan khẳng định như thế lần đầu tiên và là lần duy nhất trong toàn bộ Thánh Kinh. Tình yêu này giờ đây đã trở thành hữu hình và khả giác nơi tất cả cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu. Bản thân của Người chẳng là gì khác hơn là tình yêu, một tình yêu được tặng ban một cách nhưng không. Các mối liên hệ Người tạo nên với dân chúng là thành phần tiến đến với Người cho thấy một cái gì đó hoàn toàn đặc thù và bất khả tái diễn. Những dấu hiệu Người thực hiện, nhất là trước các tội nhân, trước thành phần nghèo khổ, thành phần ở bên lề xã hội, thành phần yếu bệnh, và thành phần đau khổ, tất cả đều có mục đích giáo huấn về tình thương. Hết mọi sự nơi Người đều nói về tình thương. Không một sự gì nơi Người mà lại trống rỗng lòng cảm thương.

Chúa Giêsu, khi thấy các đám đông dân chúng đi theo Người, đã nhận thấy rằng họ mệt mỏi và kiệt sức, lạc loài và không có người chăn dắt, nên Người đã cảm thấy thật là cảm thương họ (xem Mathêu 9:36). Theo tình yêu cảm thương này, Người đã chữa lành các bệnh nhân được mang đến cho Người (xem Mathêu 14:14), và bằng một chút ổ bánh và cá, Người đã nuôi no thỏa cả một đám thật đông (xem Mathêu 15:37). Cái đã tác động Chúa Giêsu trong tất cả mọi trường hợp này không là gì khác ngoài tình thương, một tình thương khiến Người biết được tâm can của những ai Người gặp gỡ và đã đáp ứng nhu cầu sâu xa nhất của họ. Khi Người thấy bà góa Thành Naim đang đưa đứa con trai của mình đi chôn, Người đã hết sức cảm thương về nỗi đau khổ mênh mông của người mẹ sầu thương này, và Người đã trả lại đứa con cho bà bằng việc làm em hồi sinh từ kẻ chết (xem Luca 7:15). Sau khi giải thoát cho một người bị quỉ ám ở miền Gerasenes, Người đã trao cho anh ta sứ vụ này là "Hãy trở về với bạn bè của anh mà nói cho họ biết Chúa đã làm cho anh biết bao, và Ngài đã thương anh như thế nào" (Marco 5:19). Việc kêu gọi chàng Mathêu cũng xẩy ra trong bối cảnh của tình thương. Khi đi ngang qua một quán của người thu thuế này, Chúa Giêsu đã chăm chú nhìn chàng Mathêu. Chính cái nhìn đầy tình thương này đã thứ tha các tội lỗi của con người đó, một tội nhân và là một viên thu thuế, kẻ được Chúa Giêsu chọn - ngược lại với sự ngần ngại của các môn đệ - để trở thành một trong Nhóm 12. Thánh Bede the Venerable, khi dẫn giải về đoàn Phúc Âm này, đã viết rằng Chúa Giêsu đã nhìn chàng Mathêu một cách yêu thương nhân hậu và đã chọn chàng: miserando atque eligendo (Cf. Homily 22: CCL, 122, 149-151). Lời diễn tả này đã đánh động tôi đến độ tôi đã chọn nó làm câu tâm niệm giáo phẩm của tôi.

9. Trong các dụ ngôn về tình thương, Chúa Giêsu đã mạc khải cho thấy bản tính của Thiên Chúa như là bản tính của một Người Cha không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi Ngài tha thứ kẻ lầm đường lỡ bước và chế ngự thái độ tẩy chay bằng lòng cảm thương và tình thương. Chúng ta quá biết những dụ ngôn ấy, đặc biệt là 3 dụ ngôn: về con chiên lạc, về đồng cắc thất lạc và về người cha với 2 đứa con (xem Luca 15:1-32). Trong những dụ ngôn này, Thiên Chúa luôn tỏ ra tràn đầy niềm vui, nhất là khi Ngài tha thứ. Nơi những dụ ngôn ấy, chúng ta thấy được cái cốt lõi của Phúc Âm và của đức tin chúng ta, vì tình thương hiện lên như là một quyền lực thắng vượt hết mọi sự, làm cho tâm can tràn đầy yêu thương và mang lại niềm ai ủi bằng ơn tha thứ.

Ở dụ ngôn khác, chúng ta có được một giáo huấn quan trọng cho đời sống Kitô hữu của chúng ta. Trong câu trả lời cho vấn nạn của Tông Đồ Phêrô về số lần tha thứ cần thiết, Chúa Giêsu nói rằng: "Thày không bảo là 7 lần mà là 70 lần 7" (Mathêu 18:22). Đoạn Người tiếp tục nói về dụ ngôn của "người bầy tôi tàn nhẫn", kẻ bị chủ mình đòi nợ một số tiền khổng lồ đã quì xuống van xin ông thương tình. Người chủ nợ đã tha hết số nợ cho hắn. Nhưng sau đó hắn gặp một người đồng nghiệp bầy tôi mắc nợ hắn có vài xu thôi và người này quì xuống xin thương tình, nhưng tên đầy tớ trước từ khước lời van xin của người bạn bầy tôi này mà tống anh ta vào tù. Khi người chủ nghe thấy tự sự thì nổi giận và gọi tên đầy tớ thứ nhất vào mà nói: "Tại sao ngươi đã chẳng xót thương người bạn bầy tôi của ngươi như ta đã thương xót ngươi chứ?" (Mathêu 18:33). Chúa Giêsu kết luận: "Cha Thày ở trên trời cũng sẽ đối xử với mọi người trong các con như vậy, nếu các con không thật lòng tha thứ cho anh em của các con" (Mathêu 18:35).

Dụ ngôn này chất chứa một giáo huấn sâu xa cho tất cả chúng ta. Chúa Giêsu khẳng định rằng tình thương không chỉ là một hành động của Người Cha, nó còn trở thành một tiêu chuẩn cho thấy ai thật là con cái của Ngài. Tóm lại, chúng ta được kêu gọi để tỏ ra tình thương vì chúng ta đã được tình thương cho ra cho trước. Việc tha thứ các xúc phạm trở nên việc thể hiện rõ ràng nhất tình yêu nhân hậu, và đối với Kitô hữu chúng ta nó là một mệnh lệnh chúng ta không thể tránh né. Có những lúc dường như khó mà có thể thứ tha! Tuy nhiên, tha thứ là một dụng cụ được đặt trong bàn tay mềm yếu của chúng ta để đạt được sự thanh thản của cõi lòng. Việc giải tỏa những gì hận tức, giận dữ, bạo động và trả thù là những điều kiện cần thiết để sống một cách hân hoan. Bởi thế, chúng ta hãy lắng nghe lời huấn dụ của Thánh Tông Đồ: "Đừng để cho đến khi mặt trời lặn mà vẫn còn hận tức" (Epheso 4:26). Trước hết, hãy lắng nghe lời của Chúa Giêsu là Đấng làm cho tình thương trở thành lý tưởng của đời sống và là tiêu chuẩn cho cái thế giá của đức tin chúng ta: "Phúc cho ai biết xót thương, vì họ sẽ được thương xót" (Mathêu 5:7): phúc đức này là những gì chúng ta đặc biệt cần phải khao khát trong Năm Thánh này.

Như chúng ta có thể thấy trong Thánh Kinh, tình thương là từ ngữ then chốt cho thấy hành động của Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài không chỉ hạn hẹp mình nơi việc xác nhận tình yêu của Ngài mà còn làm cho nó trở nên hữu hình và khả giác nữa. Dù sao tình yêu không bao giờ chỉ là một cái gì đó trừu tượng. Nơi chính bản chất của mình, tình yêu nói lên một cái gì đó cụ thể: những ý hướng, các thái độ và những hành vi cử chỉ được tỏ ra trong cuộc sống hằng ngày. Tình thương của Thiên Chúa là mối quan tâm yêu thương của Ngài đối với từng người chúng ta. Ngài cảm thấy có trách nhiệm; tức là Ngài muốn chúng ta được phúc hạnh và Ngài muốn thấy chúng ta hạnh phúc, tràn đầy hân hoan và an bình. Đó là con đường mà tình yêu nhân hậu của thành phần Kitô hữu cũng cần phải hành trình. Cha yêu thương thế nào thì con cái của Ngài cũng thế. Như Ngài là Đấng nhân hậu thì chúng là cũng được kêu gọi sống nhân hậu với nhau như thế.

Trang nhà

Tin tức Giáo Hội